
Đỗ
Thông Minh
Cách vật
trí tri
物格致知
Cách Vật
Trí Tri:
1-
Gọi
tắt là Cách Trí tức “Tìm cứu cái nguyên lý của sự
vật mà suy ra cái tri thức cùng cực”, ngày nay gọi các
môn khoa học tự nhiên là cách trí (tự điển
Đào Duy Anh).
2-
Tìm
tòi, nghiên cứu nguyên lý của sự vật mà tìm hiểu
cái chân lý cùng cực (tự điển Nguyên Văn Khôn).
3-
Nghiên
cứu các vật để hiểu rõ lý lẽ (cách trí) (tự
điển Hán-Việt Hiện Đại).
4-
Ngày
xưa người Nhật gọi môn Vật Lý là Cách Vật
Học格物学 (tạp chí 明六 (Meiroku = Minh Lục) thời Minh Trị).
- - - - -
Ngôn dục chí ngô chi tri, tại tức vật, nhi cùng kỳ lý. (của
Chu Hy, thời
言欲至吾之知、在即物、而窮其理〔周煕〕
Lời nói, ý muốn cho tới hiểu
biết của tôi, ở việc suy nghĩ về vật một
cách cụ thể và hết lẽ.
Tiên trí kỳ tri, trí tri, tại cách vật. (sách Đại Học)
先致其知、致知、在格物〔大学〕
Trước
hết để biết, biết tường tận là do
biết nguyên lý sự vật.
Nhân giả kỳ
thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỷ
thần chi hội, ngũ hành chi tú khí. (sách Lễ Ký)
人者其天地之徳、陰陽之交、鬼神之會、五行之秀氣〔礼記〕
Người là
đức lớn của trời-đất, là giao điểm
của âm-dương, là hội tụ của quỷ-thần,
là nguyên khí của ngũ hành.
Thủ cách kỳ
vật, nhi hậu tri trí. (của
Nhan Nguyên, thời Thanh)
手格其物、而后知至〔顔元〕
Nắm vật bằng tay, và sau đó (quan
sát để) biết đến nơi đến chốn.
Cách vật minh đức. (biểu ngữ trường đại học
Hồng Kông)
格物明徳〔香港大学〕
Biết nguyên lý sự vật để
làm sáng tỏ cái đức (hay đức của trời theo sách Đại Học).
- - - - -
Nói một cách giản dị hơn là:
“Tìm tòi cái nguyên lý sự vật để hiểu biết
tường tận sự việc.”.
Tất nhiên, muốn biết, muốn tìm tòi
cái lý thì trước hết phải học:
Nhân bất học bất tri lý.
人不学不知理
Cách Vật Trí Tri trong sách
Đại Học là một tư tưởng có tính lý luận
nhằm truy cầu khoa học hiếm hoi trong rừng
tư tưởng vốn đặt nặng quan hệ nhân
sinh của Nho Giáo. Nói nhiều về chữ Nhân (仁, chữ nhân với bộ nhân đứng イvà bộ nhị 二, có nghĩa là lòng nhân, nhân đức), chữ
hiếu (孝, như trong Nhị Thập
Tứ Hiếu), chữ văn (文, văn nhu dĩ giáo), trọng thi ca (詩歌), lễ nghĩa (礼義), Kinh Dịch (易経)…
Với một số khái niệm như:
- Thái cực (太極,
khi trời đất chưa chia ra) –-> Lưỡng nghi (両儀, trời – đất) –->
Tứ tượng (四像,
thái dương – thiếu dương – thái âm – thiếu âm) -->
Bát quái (八卦, càn – khôn – khảm – ly – cấn
- chấn – tốn – đoài) --> 64 Quẻ (卦) --> 384 Hào (爻).
- Tam tài (三才):
Thiên – Địa – Nhân (天 - 地 - 人), trong
quẻ có 3 vạch thì từ trên xuống dưới lần
lượt là Thiên – Nhân – Địa, nhưng theo nguyên tắc
của Dịch thì tính từ dưới lên trên là Địa
– Nhân - Thiên.
- Nhân chi sơ tính bản thiện (人之始性本善) của Mạnh Tử,
trong khi phái Pháp Gia cho rằng Nhân chi sơ tính bản ác (人之始性本悪).
- Nhân lễ nghĩa trí tín (仁礼義知信).
- Tiên học lễ hậu học văn (先学礼後学文).
- Tam tòng, tứ đức (三従四徳).
- Công dung ngôn hạnh (工容言行).
- Trung quân, ái quốc (忠君愛国).
- Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh (民為貴、社稷次之、君為軽, Dân là quý nhất, cơ đồ
là thứ hai, vua là điều coi nhẹ.).
- Học - vấn – tư - biện – hành (学答思弁行) là 5 bước rèn kuyện
chính từ “học” đến
“hành” theo Khổng Tử.
Chu Hy (朱熹, Chu Hui, 1130-1200), một
triết gia nổi danh đời Tống đã giải thích
“cách vật” là “xét đến cái lý của sự vật, muốn
cho những chỗ nhỏ nhặt đến đâu
cũng hiễu được thấu đáo.”, vậy “cách” là “đến”.
Nhưng Vương Dương Minh (王陽明, tên huý là Thủ Nhân, 1472-1529), một
quan văn kiêm quan võ, đặc biệt là một triết
gia lừng danh thời
nhà Minh thế
kỷ 15-16, nhìn
“Cách Vật Trí Tri” theo cách khác. Khi khám phá ra nhận
thức mới, ông đã kêu rú lên và nhẩy nhót như khi Archimède
khám phá ra sức đẩy của nước trong khoa thủy
tĩnh học. Ông cho rằng “cách” là làm cho cái sự, cái ý trở thành “chính đáng”, tức làm điều
thiện tránh điều ác. Nói khác đi, đạo
lý chỉ ở trong tâm người ta mà thôi, nếu tìm ở
sự vật là sai lầm. Ông cho rằng tâm là ý thức,
là tính, là lý, là vật khi nói: “Chủ thể của thân là tâm,
phát động của tâm là ý, bản thể của ý là
tri, sở tại của tri là vật.”. Ông chủ
trương “Trí Lương Tri” (至良知, đạt nhân đức
hay nhân đức lớn), mà hệ
quả của nó là "Tri Hành Hợp Nhất" (知行合一).
Năm 1505, Vương Dương Minh đưa
ra thuyết “Tri Hành Hợp Nhất”, và phát huy thêm “Vạn Vật
Nhất Thể“ (万物一体) có từ thời Lão Tử
(thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ
tượng, tứ tượng sinh bát quái…) thế kỷ
thứ 5 trước Công Nguyên và Chu Hy thế kỷ thứ
12 thời Nam Tống, tức là “Thiên địa vạn vật
nhất thể”. Người
ta thường hiểu “Tri Hành Hợp Nhất” là “biết
và làm là hai vế đi đôi với nhau, hợp nhất với
nhau”, nhưng thực ra theo ông: “Biết là Tri của Tâm, cảm xúc là Hành của Tâm,
việc làm là thành tựu của Tri và Hành của Tâm.”. Tức Tri và Hành đều thuộc
Tâm, hợp nhất trong Tâm, Tri và Hành là một, biết đã
là làm rồi, vì biết sinh ra cảm xúc thì đó là làm. Ông
nói rõ hơn qua thí dụ: “Mắt ta thấy sắc đẹp
là thuộc về phần tri, bụng ta thích sắc đẹp
là thuộc về phần hành. Phải biết ngay lúc trông
thấy sắc đẹp, ta đã có ý thích rồi, không phải
sau khi trông thấy rồi mới lập tâm để thích.”.
Tóm lại:
Theo thông thường: Tri Hành
(nhị nguyên) knowledge work
Theo Vương Dương
Minh: Tri+Hành Việc làm, Hành động
(tâm nhất nguyên) (thành tựu của Tri+Hành)
knowledge+work action,
job in realty
(feel) in
the mind
Ông cho rằng:
"Bản
thể của tâm là lẽ trời, sự nhận hiểu
lẽ trời một cách sáng láng linh diệu là lương
tri" (Tâm chi bản thể
tức thiên lí dã, thiên lí chi chiêu minh linh giác sở vị
lương tri dã; Phụ lục). Ông là người soi sáng “Tâm Học” (心学), và tư tưởng của ông thành “Dương Minh Học” (阳明学).
Đồng thời đó, bên Âu Châu cũng
có tư tưởng tương tự, tiếng Anh là
Monistic theory bắt nguốn từ triết học Eleaticsim
của Parmenides of Elea, một triết gia Hy Lạp khoảng
thế ký thứ 5 trước Công Nguyên.)… tạo
thành một cuộc cách mạng lớn sau quá trình 2.000
năm của Nho Giáo. Tư tưởng này đã giúp Nhật
Bản duy tân cuối thế kỷ 19, đầu 20… Bốn
câu cách ngôn về “Tâm” (心) của
ông như sau:
Không thiện,
không ác là cái thể của tâm.
Có thiện có ác là cái động của ý.
Biết thiện,
biết ác là lương tri.
Làm thiện, bỏ
ác lá cách vật.
Như vậy, “cách vật”
tức đi tìm nguyên lý không chỉ đóng khung trong khoa học
tự nhiên, mà cả bên khoa học nhân văn cũng có thể
áp dụng.
Việc đi
tìm một giải pháp nhằm giải quyết những vấn
nạn trong văn hóa Việt như một số điều
nhiều người đã nói tới và chúng tôi đã nêu ra
trong loạt bài Tự Vấn, cũng đòi hỏi tinh thần
triệt để trong quan sát, nhận thức, truy tìm ra
quy luật chi phối. Khi đã nắm bắt
quy luật, từ đó triển khai thành hướng đi và
dùng giáo dục để phổ cập. Đó là động
lực chính làm thay đổi tư duy, đưa dân trí và
dân khí lên một tầm cao hơn, kịp với thời
đại, đà tiến chung của
nhân loại.
Trong phạm vi khoa học tự nhiên, phải
chăng có lẽ nhờ cách vật trí tri mà người
Trung Hoa đã khám phá ra Kinh Dịch và 5 phát minh lớn cho nhân
loại là:
1-
Kim
chỉ nam (nam châm).
2-
Thuốc
súng.
3-
Giấy.
4-
Máy
in.
5-
Bàn
tính…
Đông Phương từ xưa thực ra
cũng đã có những quan niệm dân quyền: “Dân chi quý, xã tắc thứ chi, quân vi
khinh” (Dân là quý nhất, cơ đồ là thứ hai, vua là
điều coi nhẹ.) của Mạnh Tử, “Ý dân là ý trời”,
“Hội Nghị Diên Hồng” đời nhà Trần, “Phép vua
thua lệ làng”... nhưng chưa
được hệ thống hóa thành thể chế.
Có điều thật đáng tiếc vì rồi
sau đó Nho Giáo đã bị chính trị lũng đoạn
nên ngủ quên cả ngàn năm, đắm chìm trong từ
chương, khoa cử, thi phú, bói toán…
Từ nam châm của Trung Quốc, Tây
Phương khám phá ra từ trường, từ thông, từ
ba, điện từ… áp dụng rộng rãi trong khoa học,
kỹ thuật. Cũng như sau này người Hoa phải
học lại từ Tây Phương kỹ thuật làm hỏa
tiễn (vốn từ pháo thăng thiên của Trung Quốc),
giấy, máy in, máy điện toán…
Trong khi đó, người Tây Phương vốn
trọng “Chân - Thiện - Mỹ” (真・善・美), lại có thêm tinh thần
“Tự Do – Bình Đẳng – Bác Ái” (自由・平等・博愛), qua thế kỷ 18
đã phát triển tư tưởng “Nhân quyền - Dân quyền”
(人権・民権), lập thể chế “Dân
Chủ - Cộng Hòa” (民主・共和).
Song song đó, với tinh thần duy lý, trọng
khoa học, họ đã có những bước đi
đôi hia bảy dặm, nhất là vào thời kỳ Khải
Mông từ khoảng thế kỷ 16, 17 cũng như Cách Mạng
Kỹ Nghệ thế kỷ 18, 19. Tuy không nói Cách
Vật Trí Tri, nhưng tại sao người Tây
Phương lại có tận dụng tinh thần ấy hơn
cả người Á Đông?
7 trường hợp “Cách Vật
Trí Tri” của Tây Phương
1- Sức đẩy
của nước do Archimède khám phá ra.
Trong môi trường nước
cũng vậy, ngày
xưa người ta hiểu lờ mờ rằng vật
nặng thì chìm, vật nhẹ thì nổi, tất nhiên không
lý giải được những sự kiện như tại
sao cái tàu sắt nặng lại nổi...
Nhà toán học kiêm vật
lý học người Hy Lạp là Archimède (287-212 trước
Công Nguyên), khi khám phá ra sức đẩy của nước
trong bồn tắm tức nguyên lý vật nổi, mừng
quá, ông quên cả mặc quần áo má chạy ra đường
la toáng lên.
Ngày nay người ta dùng tên ông để đặt cho
đơn vị sức đẩy của nước.
Nhân nói về nước, nếu chúng ta có một
cái ly/cốc có dung lượng đúng 200 cc, vậy chúng ta
có thể đổ bao nhiêu nước vào đó? Đổ
được 200 cc chăng? Thực tế chúng ta có thể
đổ 200 + vài cc nữa, lý do là nước có sức căng/trương
(張力, trương lực), nên
mặt nước có thế phồng lên tới một giới
hạn nào đó trước khi nuớc trào ra.
2- Quả đất
vuông à tròn
Theo quan niệm Đông
Phương xưa thì mặt trời tròn và quả đất
vuông. Còn Tây Phương thì có thuyết cho rằng quả
đất là lưng con rùa và 4 chân rùa là 4 con voi bước
đi trong không gian. Người đi tàu
biển chắc chắn là thường xuyên thấy cảnh
đường chân trời hơi cong, nhưng không thể
ngờ là quả đất hình tròn. Vì nếu
quả đất tròn thì người ta ở phần trên
đứng suôi còn người ở phần dưới sẽ
đứng ngược đầu sao? Sau
này mới biết quả đất lớn và không gian vốn
vô hướng nên người ta không có cảm giác ngược
đầu. Có người còn sợ
đi ra tới dìa thì có thể bị rơi xuống.
Khi tàu thám hiểm Âu Châu tới vùng đất
của người da đỏ thuộc Châu Mỹ đã
đặt tên là
Quả đất quay quanh chính nó một
vòng 24 giờ và quanh mặt trời một vòng hết
365,2564 ngày nên cứ 4 năm lại dư 1 ngày (năm nhuận,
tháng 2 có 29 ngày). Sau này khoa học mới biết quả
đất tròn và thực ra hơi phình ở giữa,
hơi dẹp hai đầu nên bán kính ở xích đạo
là 6.378,245 km và ở cực là 6.356,863 km, trục nó nghiêng 66
độ 33’ 20’’ nên vùng ôn đới ở bắc và nam bán
cầu mới có 4 mùa, rồi trọng lực, từ
trường, từ quyển, vòng ozone (O3). Từ đó mới
phân chia đường xích đạo, múi giờ, định
giờ chuẩn từ đường kinh tuyến
Grennwitch đi ngang nước Anh, đường kinh tuyến
đổi ngày giữa Thái Bình Dương, chia múi giờ… Vì
vậy, đi theo hướng đông hay
tây thì cuối cùng cũng sẽ trở về đến
đích, đó là câu chuyện thám hiểm “72 Ngày Vòng Quanh Thế
Giới”.
Nhân đây, xin nhắc về chuyện thời
Hùng Vương, khi Tiết Liệu dâng Vua Cha bánh dầy
tròn tượng trưng cho trời, bánh trưng vuông tượng
trưng cho đất. Về mặt thực tế, ông là
người gần gũi với nông dân, là thành phần chiếm
đa số trong xã hội, và về mặt triết lý,
đã chứng tỏ ông chính là người (nhân) đã nắm
được quy luật của trời-đất
(thiên-địa), là con người ý thức quan hệ trọng
yếu tam tài “thiên-địa-nhân (天・地・人)”, xứng đáng để
được truyền ngôi vị Vua, chăn dắt
trăm họ.
3- Thiên Động
Thuyết à Địa Động Thuyết của
Kopernik, Galilée
Hàng ngày con người
nhìn lên trời, theo dõi sự chuyển động của mặt
trời đều thấy mặt trời quay từ
đông sang tây. Các nhân vật lừng danh như Triết Gia
Aristote (384-322 trước Công Nguyên) người Hy Lạp,
nhà Toán Học kiêm Thiên Văn Claude Ptolémée (85-165) người
Ai Cập đều cho rằng quả đất là trung
tâm không những của Thái Dương Hệ mà còn của
cả vũ trụ nữa và nhân loại coi đó là chuyện
đương nhiên khỏi cần bàn.
Thế mà sau này có nhà Thiên Văn Nicolaus
Kopernik tức Copernicus (1473-1543) người Ba Lan không giống
ai, nhận ra rằng không phải thế, đã chứng
minh cụ thể bằng toán học rằng là mặt trời
trung tâm, quả đất quay quanh mặt trời chứ
không phải mặt trời quay quanh quả đất
nhưng không ai tin.
Và ông Galilée tức Galileo
Galilei (1564-1642), một nhà Thiên Văn người Ý lại
quả quyết quả đất quay quanh mặt trời. Ông đã bị
đả kích nặng nề, kể cả đưa ra tòa
vì sự chứng minh rất khó khăn trước thực
tế biểu kiến hiển nhiên ai cũng thấy.
Như khi chúng ta ngồi xe điện,
thấy những cột điện hai bên đường
như chạy lùi, ai cũng biết không phải cột
điện chạy mà xe điện chạy. Nhưng
trong một quy mô nhỏ thì dễ nhận ra, còn quy mô lớn
thì rất khó mà biết được. Sau
này khoa học tiến bộ hơn, nhân loại mới dần
dần chấp nhận một sự kiện coi như nghịch
lý quá lớn như vậy.
Mặt trời cũng tự
quay quanh chính nó 1 vòng mất 10 ngày, gọi là tuần (旬) nên mới có thượng, hạ,
trung tuần, bình thường người Việt coi 1 tuần
là 7 ngày. Cả Thái Dương Hệ lại
quay quanh một ngân hà. Và hàng tỷ ngân hà
lại quay quanh những trục nào đó… mà khoa học
chưa xác định được. Vũ
trụ từ đâu, một vụ nổ lớn (big bang)?
Đi về đâu sau tiến trình dãn nở - co rút 4,5 tỷ
năm, hình dáng như thế nào, nếu có hình dáng thì tất
có biên giới, nếu có biên giới vậy ngoài biên giới
đó là gì, có còn là vũ trụ không? Nếu
còn thì biên giới vừa nói chưa phải là biên giới?
Nếu không thì nơi đó là gì? Ngay cả
cái vật chất nhỏ nhất như “hạt cơ bản”
là cái gì, hình dáng ra sao…? Đó là những câu hỏi lớn của
nhân loại mà khoa học vẫn chưa trả lời rõ ràng
được.
4- Vạn vật
hấp dẫn hay câu chuyện
Trước đó, cả nhân loại vẫn
nghĩ đơn giản mọi vật nặng tức có
trọng lượng thì rơi xuống, tuy rằng có một
số hiện tượng không giải thích được
như bong bong bay thì cho là tại nó nhẹ, con chim tuy nặng
nhưng có cánh nên bay được… Không ai
tưởng tượng có một sức hút vô hình nào
đó đang chi phối vạn vật, đó là sức hấp
dẫn.
Nhà Thiên Văn Học, Toán Học Newton sir
Isăc (1642-1727), một hôm nằm dưới gốc táo,
thấy quả táo rơi, ông chợt khám ra ra sở dĩ
quả táo rơi không phải vì nó nặng mà vì quả đất
hút nó. Tất nhiên nó cũng hút quả đất,
nhưng vì sức nó yếu nên bị kéo về phía quả đất.
Nếu chúng ta để 2
khối nam châm lớn nhỏ gần nhau, khối lớn sẽ
hút khối nhỏ. Sau này người ta biết
rằng mọi vật có trọng lương đều có
sức hút, nhưng vật nhỏ có sức hút rất yếu
nên chúng ta không thấy tác dụng của nó.
5- Hằng số bí
ẩn Pi = 兀
Số Pi (兀) tiềng
Hán là viên chu suất (円周率), là một con số toán học
rất lạ lùng, đầy bí ẩn, một hằng số
trong quan hệ giữa chu vi vòng tròn và đường kính.
Pi = 1,14,159… Cứ lấy đường
kính nhân với số Pi thì ra chu vi, vì thế
được gọi là hằng số. Người Ai Cập
tìm ra con số Pi đã tài tình rồi, làm sao biết chính xác
là bao nhiêu, đo đạc như thế nào mà biết những
số lẻ bất tận phía sau?
Thật vậy, Pi là một
con số với hàng số lẻ không bao giờ chấm dứt,
tức là “vô tận”.
Nhớ Hàng Số Pi!!!. Ở
trường học thường viết gọn là 3,1416, nhưng thực ra là
3,14159265352230690612949... dài bất tận,
không ai nhớ nổi. Máy điện toán ở Nhật
đã tính ra được khoảng hàng số và tất
nhiên còn nữa!
Người ta dùng gọn là 3,1416
vì không ai nhớ nổi những con số lẻ vô nghĩa
ở phía sau. Thế mà trong tháng 7/2005, có người Nhật
là ông Akira Haraguchi (Nguyên Khẩu Chứng, 59 tuổi, người
tỉnh Chiba) tìm cách nhớ, thật là một chuyện
đáng kinh ngạc, không tưởng tượng nổi.
Ông trở thành người có khả năng nhớ nhiều
hàng số Pi nhất thế giới (記憶術/円周率世界一), mặc
dù thời đi học ông chỉ có thành tích rất tầm
thường.
Bí quyết nhớ của ông là thay vì nhớ
những con số vô hồn, ông đã đặt cho những
con số những âm trong bảng 48 ký tự của Nhật,
từ đó làm thành một bài thơ dài, với vần
điệu và có ý nghĩa.
Thí dụ: Số 0 mang những âm: ra, ri, ru, re, o, on
Số 1 mang những âm: a,
i, u, e, hi, an...
Các số lẻ đầu: 1415926535 sẽ
thành câu "Anshin unto kuni moto satta, = Đã được an
tâm rời đất nước,".
Các số lẻ kế tiếp: 2230690612949 sẽ
thành câu "Fuyu sora nukeru mo utsukushiku. = Dù xuyên qua bầu trời
mùa đông thì cũng đẹp.".
Ngày
Qua tháng 7/2005, ông đã đọc thuộc
lòng 83.431 hàng số, trong khi coi như trung bình nhân loại chỉ
nhớ độ 5 hàng số!!!
Ông vốn là con cháu nhà sư, từng sống
ở chùa, từ nhỏ ông đã có dịp làm quen với với
các sách tôn giáo và triết học, làm cho ông cảm được
sự thâm sâu và vĩnh viễn... Mười năm trước,
khi làm việc tại một công ty chế tạo đồ
điện, ông bắt đầu mê mải trong việc tìm
cách nhớ số Pi mà ông cho là "Hợp với tính cách của
mình" và ông đã dùng lối "liên tưởng" từ
số ra âm để kết hợp thành thơ... Nói vậy chứ bây giờ ông đã chỉ cách nhớ
rồi, liệu có ai nhớ được từng ấy
câu thơ và khi đổi ra số mà không bị nhầm
chăng?
6- Khám phá ra điện,
điện là gì?
Điện hiện diện trong thiên nhiên,
dưới hình thức sét, cọ sát hay tĩnh điện…
Người xưa khi sờ vào một vật gì mà bị
điện giật, chắc người ta cho là vật ấy
có ma! Một ngày kia khoảng 600 năm trước Công
Nguyên, người ta khám phá ra hiện tượng “điện”
và rồi ông Benjamin Franklin (1706-1790), Alessandro Volta (1745-1827), André
Ampère (1775-1836), Michael Farraday (1791-1867), William M. Furedy (sáng chế
ra mô-tơ điện Hoa Kỳ)… khai sáng thêm, tự chế
ra máy phát điện bằng mô-tơ, quạt gió, máy nổ,
nhiệt điện, thủy điện, nguyên tử… cũng
như pin, pin nhiệt điện, tế bào quang điện...
Và song song đó khoa học mới biết sở
dĩ có hiện tượng điện là do sự di chuyển
của điện tử nằm ở vòng ngoài các nguyên tử
(điện tử có hướng), từ
nguyên tử này sang nguyên tử kia, trong
môi thể như dòng điện đã tạo ra dòng điện
chạy ngược chiều. Và dòng điện quấn
trong một lõi kim thuộc cũng có thể
sinh ra từ trường… Ngày nay cụôc sống
tươi sáng của 99,99% nhân lọai
chính là nhờ vào điện, mà đơn giản là sự
di chuyển của các điện tử trong dòng điện.
Tốc độ điện tử truyền
trong dây đồng khoảng 1.600 km/giây, nhưng
điện tử quay quanh nhân với vận tốc gần
bằng tốc độ ánh sáng, tạo thành “lớp
vỏ” quanh nhân.
7- Quan hệ giữa
vật chất và năng lượng
Nhà
Vật Lý Học Albert Einstein (1879-1955) người Thụy
Sĩ gốc Đức, thiên tài khoa học của cả nhân
loại, qua thuyết lượng tử ông đã viết
ra công thức E = mC2.
E: năng lượng
m: vật
chất
C: tốc độ ánh sáng.
Công thức thật thần
tình này cho chúng ta thấy ông đã nhìn ra quan hệ giữa vật
chất, năng lượng và ánh sáng. Chỉ một khối
lượng vật chất nhỉ khi nhân với vận tốc
ánh sáng 300.000 km/giây bình phương sẻ cho ra một nặng
lượng rất lớn và điều này đã
được chứng minh qua kết quả thử nghiệm
bom nguyên tử.
Bom A, dùng nguyên liệu Uranium
235 hay Plutonium và áp dụng phản ứng phân liệt.
Bom H (Hydrogen), dùng nguyên liệu H2 và áp dụng
phản ứng kết hợp tạo ra H3 (đồng vị)
và nặng lượng lớn gấp hàng trăm lần bom
A. Bom A mới chỉ là ngòi nổ của
bom H…
- - - - -
Còn nhiều, rất
nhiều những khám phá độc đáo như vậy.
Chính sự cách vật trí tri trên và nhiều
khám phá những quy luật thiên nhiên khác đã làm thay đổi
cả văn minh của nhân lọai, đưa lên tầm mức
ngày càng cao hơn.
Sự nhầm lẫn
ngây thơ của nhân loại thời đại này!
Sự khôn ngoan của nhân loại tức chỉ
chung trí khôn của loài người đã đưa nhân loại
tới những xã hội văn minh hiện nay, nhưng
trong quá trình tiến bộ đó, tuy nhiên còn nhiều điều
chưa hiểu cặn kẽ và đôi khi cũng có một
số sai lầm rất sơ đẳng.
1- Nhầm lẫn
trong việc nhân bản hay sao chép người
Khi y học cho thấy có thể sản xuất
hàng loạt con người trong phòng thí nghiệm qua
phương pháp thụ tinh vô tính hay tế bào và trứng
(cloning)… Một số giới khoa học đã vội vã cho
là có thể sản xuất hàng loạt người hoàn toàn
giống nhau gọi là “copy human”.
Thực tế
cho thấy, các lạp tử là thành phần nhỏ nhất
(hạt cơ bản) trong nguyên tử luôn luôn ở một
trạng thái bất định giữa vật chất và năng
lượng, biến đổi liên tục giữa hai trạng
thái đó. Vị bất định nên tự
nó không có trạng thái nhất định, và vì vật không
có lạp tử thứ 2 nào giống nhau. Lạp tử
còn không giống nhau, thì nguyên tử không giống nhau, do
đó, không thể có hai tế bào hay sinh vật hoàn toàn giống
nhau. Chưa kể mọi vật chất hay sinh vật trong
vũ trụ, dù chỉ ra đời trước sau 1 sát
na, 1 phần tỷ giây đi nữa thì yếu tố thời
gian rất ngắn ngủi đó cũng đủ làm cho
hai vật chất trở thành khác nhau. Còn sau này tồn tại
với thời gian thì sẽ bị biết bao yếu tố
khác thuộc môi trường làm cho thay đổi, như
con người do dinh dưỡng mà cơ thể khác nhau,
do học vấn mà nhận thức khác nhau…
2- Nhầm lẫn
về sóng nước có đi tới hay không?
Khi nhìn sóng nước, chúng
ta thấy sóng di động lên xuống và di chuyển ngang,
nhưng có một số nhà khoa học cho rằng sóng nước
chỉ nhấp nhô lên xuống chứ không di chuyển ngang
tức không đi tới, đặc biệt là khi thí nghiệm
tạo sóng với cố thể như một sợi dây
hay lò xo... thì thấy rõ sợi dây và lò xo không hề đi tớị
Nhưng cuối
cùng thì khoa học phải công nhận là với dịch thể
hay nói rõ hơn là môi thể lỏng thì sóng có đi tới
nên mới trôi dạt các thứ nổi trên mặt nước
vào bờ, tuy rất chậm so với tốc độ của
sóng. Khoa học tính ra tốc độ sóng bằng số
chấn động nhân với chiều dài sóng: v = fλ và chu kỳ sóng: T = 1/f.
Thí dụ sóng của âm thoa
hình chữ "Y" (dùng điều chỉnh âm thanh):
- Số chấn động:
400
- Chiều dài sóng: 70 cm
- Tốc độ sóng: 70 x
400 = 28.000 cm = 280 mét/1 giâỵ
Đặc biệt
là với sóng từ, thì sóng cũng đi tới nên có thể
ứng dụng tạo động cơ bằng điện
từ. Cấu tạo động cơ
điện từ gồm một đế hình vành trụ
bằng thép có cơ năng đặc biệt tạo ra
sóng từ xoay tròn trên mặt, bên trên để một hình
vành trụ khác bằng thép có điện từ đồng
cực với đế nên đẩy nhau làm cho trụ này
được nâng bổng lên. Khi đế tạo ra
sóng điện từ thì vành trụ thép bên trên xoay theo chiều sóng, đó là động cơ
điện từ, đặc biệt là không bị ma sát,
khác hẳn với động cơ nổ hay động cơ
điện thường thấỵ
Thêm nữa, có
chắc là mũi nhọn rẽ sóng nước tốt nhất
chăng? Các tàu, nhất là tàu chiến đều làm
mũi càng nhọn càng tốt để chạy được
nhanh, nhưng sao nhiều tàu lớn như tàu dầu thường
thấy có cục u tròn lớn ở mũỉ Người
Nhật đã thí nghiệm và thấy rằng cục u tròn
đó đã rẽ sóng tốt hơn và giúp cho tàu đi nhanh
hơn là mũi nhọn thuần túy. Thế mới lạ!
3- Nhầm lẫn
về ánh sáng truyền theo đường
thẳng? Màu sắc có được là tự
thân của vật?
Ai cũng biết ánh sáng mặt trời tức
ánh sáng thiên nhiên hay ánh sáng trong suốt không màu (vô sắc) là một tổng hợp bao gồm 7
màu, từ màu tím đền màu đỏ tím. Mắt chúng ta thấy ánh sáng truyền
theo đường thẳng tắp nhưng
thực ra bằng dạng sóng hình sin (〜) cực nhỏ (trung gian giữa vật chất
và năng lượng), với độ dài sóng λ trong
khoảng 380-780 nm (nano mét = 1/1.000.000 mili mét), như thấy
qua lăng kính khúc xạ hay ánh sáng cầu vồng. Trong
đó có 3 loại ánh sáng chính là đỏ, xanh và vàng tức
không bao gồm 2 màu ở biên như tím và đỏ tím…,
như thường thấy trên ống phóng hình của TV
hay thêm màu đen (không có trong 7 màu tạo ra ánh sáng thiên nhiên)
như thường thấy trong việc phân hình màu thành 4
hay 5 màu riêng biệt và sau đó khi in chồng nhau tức tổng
hợp lại trong ấn loát.
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Màu tím tiếng Hán-Việt là “tử”, nên mới
có từ “tử ngoại tuyến” (紫外線) tức “tia tử ngoại”,
là loại tia có độ dài sóng ngắn 10-380 nm, và màu đỏ
tiếng Hán-Việt là “xích”, hay “hồng” nên mới có từ
“xích ngoại tuyến” (赤外線) hay “hồng ngoại tuyến” (紅外線) tức “tia hồng ngoại”,
là loại tia có độ dài sóng dài 780 nm-1 mm mà mắt
thường của người ta không thể thấy
được, nhưng máy hình dạng số (digital camera) có
thể chụp được.
Thí dụ chúng ta thấy một
vật màu đỏ, nhưng nếu bỏ vật đó vào
trong phòng tối thi không thấy gì nữa hết. Tại sai vậy?
Tất nhiên tại vì không có ánh sáng. Bây giờ chiếu ánh sáng
bình thường vào vật, nhưng nếu chúng ta lọc bỏ
màu đỏ (độ dài sóng 610-780 nm) và các màu
tương cận đi thuộc biên của tia tử ngoại
hay tia hồng ngoại, thì vật đó sẽ không còn là màu
đỏ nữa mà là màu rêu đậm, tức màu liên kết
giữa màu xanh lá cây và vàng. Như vậy thực ra vật
không mang màu hay phát ra màu mà mang cấu tạo bề mặt có
độ phản xạ sóng khác nhau, màu thấy được
là do phản xạ ánh sáng thiên nhiên mả ra.
Cũng xin lưu ý là cần
phân biệt ánh sáng thiên nhiên là ánh sáng trong suốt không màu và
ánh sáng màu trắng (như tuyết hay sữa). Ánh sáng không
màu (vô sắc) trong suốt là kết hợp từ ánh sáng 7
màu khác như nói trên, nhưng sơn màu trắng (hữu sắc)
không phải là kết hợp từ sơn 7 màu khác. Nếu chúng ta lấy sơn 7 màu trên trộn với
nhau thì chúng ta sẽ có màu gì? Chúng ta sẽ không có màu vô
sắc như ánh sáng thiên nhiên, nhưng cũng không có màu trắng
tuyết hay sữa, mà có màu đà, tức màu tro, là màu vải
các tu sĩ Phật Giào hay mặc. Trên thực tế, để
thể hiện ánh sáng không màu (vô sắc) thuần tuý trong suốt,
không thể dùng sơn màu hay vật liệu
màu (hữu sắc) trong thiên nhiên để tạo ra. Chỉ
có thể hội tụ 7 loại ánh sáng trên mới có thể
tao ra ánh sáng vô sắc trong suốt.
Đặc biệt, âm thanh không phải tự chúng
có thể truyền tới giác quan của chúng ta, mà truyền
được là nhờ có một môi thể nào đó.
Như trong hạ tầng không gian có không khí gồm oxygen (O)
và nitrogen (N)…, ở trên thượng tầng không gian, coi như
trống không, không có môi thể nào thì người ta sẽ
không nói chuyện trực tiếp với nhau được.
Có thể thử nghiệm bằng cách để
một chiếc đồng hồ trong lồng kính, chúng ta
nghe thất tiếng tích tắc, nhưng nếu hút hết không
khí ra, chúng ta sẽ không còn nghe thấy gì nữa hết.
Như vậy,
khi nói tới tốc độ truyền cũng còn tùy thuộc
vào môi thể. Tốc độ sóng của âm thanh trong
không khí là 340 mét/giây hay 1.224 km/giờ, trong nước là
1.500 mét/giây, trong thép là 6.000 mét/giây. Điện, tức
điện tử truyền từ nguyên tử này sang nguyên
tử kia, tạo ra dòng điện
ngược chiều trong dây đồng rất nhanh, khoảng
1.600 km/giây, nhưng điện tử
quay quanh nhân với vận tốc gần bằng tốc độ
ánh sáng. Còn ánh sáng truyền trong không gian là nhanh nhất,
lên tới khoảng 300.000 km/giây, nhanh gấp khoảng 200 lần
điện.
4- Nhầm lẫn
về thời gian khi bước qua thiên niên kỷ mới
Có lẽ khi nhân lọai bước qua thiên
niên kỷ thứ 2 vào 1.000 năm trước cũng đã
có sự nhầm lẫn như khi bước qua thiên niên kỷ
thứ 3 mà tất cả người thời nay đều
đã chứng kiến.
Đêm ngày 31/12/1999 bước qua ngày
1/1/2000, hầu như khắp nơi trên địa cầu,
nhân loại đã hân hoan tổ chức lễ hội ăn
mừng thiên niên kỷ mới, trịnh trọng đón chờ
và coi giây phút bước qua ấy rất thiêng liêng... Trong khi đó, thực ra là vẫn còn ở thế
kỷ 20.
Thực vậy, phải
là đêm ngày
Cho tới nay mà nói ra
điều ngày chắc hẳn là còn có rất nhiểu
người vẫn chưa đồng ý, vẫn khăng
khăng ngày
Để cho dễ hiểu, xin lấy thí dụ chúng
ta có 21 tờ giấy 100 đồng.
- Khi chúng ta tiêu 1999 đồng rồi tiêu thêm
đồng kế là đồng thứ 2000 thì mới chỉ
dùng tờ tiền giấy thứ 20. Nếu
nói về thời gian, thì là năm 2000, thế kỷ 20, thuộc
thiên niên kỷ thứ 2.
- Khi chúng ta tiêu 2000 đồng rồi tiêu
thêm đồng kế là đồng thứ 2001 thì mới
dùng tới tờ tiền giấy thứ 21. Nếu
nói về thời gian, thì là năm 2001, thế kỷ 21, thuộc
thiên niên kỷ thứ 3.
Như vậy nhân lọai
đã nhầm cả nguyên 1 năm. Thôi thì đã có “đồng
hồ cơ thể”, thì đây là “đồng hồ nhân loại”
với sai số 1/1.000 năm cũng nên coi là sai số nhỏ,
có thể bỏ qua chăng? Nhân loại với hơn 6 tỷ
người mà sai, nên hơn bao giờ hết tất cả
cùng hùa với nhau bỏ qua cho vui vẻ “cả làng”, à quên “cả
địa cầu”!
5- Người Việt,
Hoa, Nhật nhầm lẫn về con giáp, và người Việt
nhầm một số từ?
Âm lịch có 10 can và 12 chi, kết thành 1 chu kỳ
60 năm gồm Giáp Tý, Ất Sửu… gọi là một hội
(chu kỳ Tây Lịch là 28 năm), là 5 lần Thổ Tinh (土星), 2 lần Mộc Tinh (土星) quay quanh Mặt Trời
tức Thái Dương (太陽),
cũng như 12 con giáp. Tại sao gọi là “hội”?
Là vì đặc biệt vào đầu chu
kỳ này thì 5 sao Kim, Mộc, Thuỷ, Hỏa, Thổ tuy
quay theo những quỹ đạo khác nhau nhưng đều
dồn (hội) về một phía.
Rất nhiều người thường
nghĩ năm Đinh Hợi (丁亥) 2007, thì "hợi" là con lợn/heo,
thực ra "hợi" là chi (支) không phải con giáp (甲) và là giờ thứ 12 trong: tý, sửu, dần,
mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi. Còn
trư (猪) hay đồn (豚, lợn/heo con) mới là lợn/heo
như “Trư Bát Giới” trong Tây Du Ký. Trong vòng tròn 12 cung, 12 chi này cùng cung giác với 12 con
giáp chứ không phải là 12 con giáp. So với bảng 12
con giáp thì "thìn" (辰) tương
đương với con rồng chứ long (龍) mới thực là "con rồng",
"tý" (子) tương đương
với "con chuột" chứ thử (鼠) mới thực là "con chuột"
hay "dần" (寅) tương
đương với "con cọp", chứ "hổ"
(虎) mới thực là "cọp..".
Theo lối tính giờ của Trung Hoa và Việt Nam xưa
thì một ngày có 12 giờ, giờ "tuất" tương
đương với thời gian 7 đến 9 giờ tốị
Chúng ta thường nghe câu: "Nửa đêm giờ tý canh
ba". Giờ tý là 11 giờ đêm tới 1 giờ sáng, giờ
sửu là 1 đến 3 giờ sáng. Còn ngọ (午) là 11 giờ sáng đến 1 giờ
chiều, chính ngọ (正午)
là đúng 12 giờ trưa.
Đồ
biểu 10 can, 12 chi, 5 hành và 12 con giáp
Người Hoa và Nhật cũng dùng 12 con giáp nhưng có 4 con khác với Việt
Sửu
cùng cung giác với Ngưu = Bò à
Trâu (thực ra là Thủy ngưu)
Mão/Mẹo
cùng cung giác với Thỏ/Thố à
Mèo
Mùi
cùng cung giác với Dương = Cừu à Dê
Hợi
cùng cung giác với Trư = Heo rừng à Heo nhà

- - - - -
Xin nói thêm
Có
điều chắc là hầu hết người
Việt đã nhầm lẫn khi viết sai từ dịch chữ “The United States o
Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ (合衆国華旗) -à Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ (合種国華旗) (sai)
-
Nghĩa là hợp các nước -à
Một liên bang, chứ tên một quốc gia không bao giờ
nói tới yếu tố chủng tộc. Trường hợp này đọc
là “Hiệp Chúng Quốc”
cũng không hẳn là
đúng vì đã có chữ hiệp (協).
-
Các từ điển Hán-Việt và Việt-Hán đều viết
đúng, nhưng các từ điển tiếng Việt mới
tại Việt
Vô
hình trung (無形中) -à Vô hình chung (sai)
Lãng
mạn (浪漫) -à Lãng mạng (sai)…
- - - - -
Trên đây chúng tôi chỉ nêu lên một vài sự
kiện… như một gợi ý chung.
Mục
đích là cùng nhau chia sẽ, quan tâm triệt để hơn
tới những sự kiện chung quanh,
tận lực làm việc theo chiều hướng thượng
để cùng giúp nhau vươn lên.
- - - - -
Phụ Lục (trích Bách Khoa Toàn Thư VN):
Vương Dương
Minh
Vương Dưong Minh (王陽明, Wang
Yangming); tên thật: Vương Thủ Nhân (王守仁, Wang Shouren); 1472-1528,
nhà chính trị, một vị Tướng bách chiến bách thắng
(nhưng nhất định từ chối không đem quân
đánh An Nam) và là triết gia nổi tiếng đời
Minh (明, Ming),
Trung Quốc. Quê tỉnh Chiết Giang (浙江, Zhejiang).
Từng dựng nhà ở động Dương Minh, gần
Hàng Châu (杭州, Hangzhou)
để dạy học, nên được gọi là
Dương Minh tiên sinh. Về mặt triết học,
Vương Dương Minh theo tâm
học của Lục Cửu Uyên (陸九淵, Lu Jiuyuan,
1139-1192) coi tâm,
đạo và trời là một, nếu hiểu rõ
"tâm" (bản thể của tâm), thì cũng hiểu
được đạo và trời (tâm tức đạo,
đạo tức thiên, tri tâm tất tri đạo tri
thiên). Vương Dương Minh là tập
đại thành của tư tưởng duy tâm chủ quan ở
Trung Quốc. Ứng dụng tâm học về
mặt đạo đức, Vương Dương Minh
chủ trương "trí lương tri" và "tri
hành hợp nhất". "Trí lương tri" (thực
hiện triệt để điều hiểu biết tốt
lành), vì lương tri là điểm sáng của lòng người,
đó cũng là lẽ trời (thiên lí): "Bản thể của tâm là lẽ trời, sự
nhận hiểu lẽ trời một cách sáng láng linh diệu
là lương tri" (Tâm chi bản thể tức thiên
lí dã, thiên lí chi chiêu minh linh giác sở vị lương tri
dã; Phụ lục).
Thuyết
"trí lương tri" của Vương Dương
Minh kế tục ý niệm "lương tri lương
năng" của Mạnh Tử (Mengzi), nhấn mạnh
"trí" (thực hiện triệt để). Hệ quả của "Chí lương
tri" là "Tri hành hợp nhất".
Vương Dương Minh bản thân không có trước
tác, nhưng những điều giảng dạy của ông
đã được học trò ghi lại thành sách với
tên "Ngữ lục", "Văn lục", "Biệt
lục", "Phụ lục"v.v..., gồm 38 quyển
với tên "Vương Văn Thành Công toàn thư"
(Văn Thành Công là tên do vua nhà Minh phong tặng). Học thuyết
Vương Dương Minh đã có ảnh hưởng lớn
ở khoảng giữa triều đại nhà Minh, về
sau truyền sang Nhật Bản, đã tác động không
nhỏ tới phong trào Duy Tân của nước này.
- - - - -
Trích bài “TÂM PHÂN BIỆT” (Diễn Đàn Phật Giáo)
Vấn đề là ở chỗ
một khi đã có phân biệt rồI (tức là chuyện bắt
buộc một khi đã xử dụng ý nghĩ) thì làm sao
biết được đâu là đúng, đâu là sai, (tạm
gọi là Thiện và Ác) để mà làm theo???
Cái đó trong PG gọi là Trí Tuệ
Bát Nhã .
Về chuyện
“phân biệt” này, không ai nói rõ và chính xác hơn Vương
Dương Minh, một danh nho đời Minh:
Vô thiện vô ác thị tâm chi thể
Hữu thiện hữu
ác thị ý chi động
Tri thiện tri ác thị
lương tri
Vi thiện khử ác thị cách vật
Dịch:
Không Thiện không Ác là thể của
Tâm
Có Thiện có Ác là sự
động của Ý
Biết Thiện biết
Ác là LƯƠNG TRI
Làm Thiện bỏ Ác là
cách vật
Bản thể của
Tâm thì tuyệt đối không có gì là Thiện Ác phân biệt
ở trong đó (đây là vườn Địa Đàng của
Đức Chúa Trời đó. Sự Thiện Ác chỉ có
khi có sự khởi động của Ý (Adam và Eva ăn
trái cây Phân Biệt. Tuy nhiên trong Tâm con người luôn
luôn có một yếu tố mà VDM gọi là Lương Tri và
PG gọi là Trí Tuệ Bát Nhã (Cơ Đốc Giáo gọi là
Chúa Thánh Linh ?) luôn luôn biết đâu là đúng, đâu là sai
trong mọi trường hợp để biết theo
đó mà ứng xử.
Tất
cả “nghệ thuật” là làm sao nhận biết ra cái
Lương Tri này, VDM gọi là “Trí Lương Tri” (biết
cái Lương Tri)
Mục
tiêu của sự tu hành cũng là để thấy cái LT nàỵ
Vài trích đoạn trong Nho Giáo của
Trần Trọng Kim, tr. 245:
“Có cái tâm học, thì cứ theo
cái Chiêu Minh Linh Giác của tâm mà hành động, chứ không
câu nệ gì cả. Dương Minh thường nói rằng:
"Học là quí cái được ở tâm. Tìm ở tâm mà
không phải, thì dẫu lời của Khổng Tử nói
ra, không dám lấy làm phảị. Tìm ở tâm mà phải,
thì dẫu lời của kẻ tầm thường nói ra,
không dám lấy làm trái". Sự học đã chủ ở
tâm như thế, thì rất là ung dung hoằng đại,
không câu nệ điều gì, và không cố chấp học
thuyết nào, hễ có điều phải là theo.”.
Có người hỏi rằng:
- Đạo Nho và đạo
Phật khác nhau thế nào ?
Dương Minh nói rằng:
- Không nên tìm cái đồng
cái dị của đạo Nho, đạo Phật, tìm CÁI
PHẢI mà học là được vậy .
- Thế thì phải với
trái biện biệt ra làm sao?
- Tìm ở Tâm MÀ YÊN là phải.
Tr. 253:
Dương Minh dẹp xong cái loạn Thần Hào rồi, lại bị những kẻ gian thần tìm đủ cách để làm hại, thế mà ông cứ điềm nhiên ở cái Lương Tri, không hề lo sợ chút gì cả. Sau khi việc ấy yên rồi, ông viết thư cho người ta, nói rằng: "Cận lai tìm được ba chữ "Trí Lương Tri", thật là Chánh Pháp Nhỡn Tàng của thánh môn. Mấy năm trước còn cái ngờ chưa hết, nay nhân có nhiều việc, chỉ có cái Lương Tri ấy mà không có cái gì là không đủ, ví như đi thuyền nắm được cái tay lái, đi qua chỗ phẳng, chỗ sóng, chỗ nông, chỗ sâu, không đâu là không vừa ý, tuy gặp sóng gió, nhưng nắm được tay lái, thì khỏi được cái lo phải chìm đắm vậy"...
Huyền Thoại thân kính mời quý bạn cùng đón nghe các audio truyện lịch sử ...
Tuesday, 1 June, 2010 4:55 PM