a

Anh Hùng Tiêu Sơn

Lời nói đầu

Hồi 1

Hồi 2

Hồi 3

Hồi 4

Hồi 5

Hồi 6

Hồi 7

Hồi 8

Hồi 9

Hồi 10

Hồi 11

Hồi 12

Hồi 13

Hồi 14

Hồi 15

Hồi 16

Hồi 17

Hồi 18

Hồi 19

Hồi 20

Hồi 21

Hồi 22

Hồi 23

Hồi 24

Hồi 25

Hồi 26

Hồi 27

Hồi 28

Hồi 29

Hồi 30

Bồ Tát đắc pháp

Thập đại danh hoa

Vấn đề thời đại Tiêu Sơn

a

Thuận Thiên Di Sử

Hồi 31

Hồi 32

Hồi 33

Hồi 34

Hồi 35

Hồi 36

Hồi 37

Hồi 38

Hồi 39

Hồi 40

Hồi 41

Hồi 42

Hồi 43

Hồi 44

Hồi 45

Hồi 46

Hồi 47

Hồi 48

Hồi 49

Hồi 50

Hồi 51

Hồi 52

Hồi 53

Hồi 54

Hồi 55

Hồi 56

Hồi 57

Hồi 58

Hồi 59

Hồi 60

a

Anh Hùng Bắc Cương

Lời tựa

Hồi 61

Hồi 62

Hồi 63

Hồi 64

Hồi 65

Hồi 66

Hồi 67

Hồi 68

Hồi 69

Hồi 70

Hồi 71

Hồi 72

Hồi 73

Hồi 74

Hồi 75

Hồi 76

Hồi 77

Hồi 78

Hồi 79

Hồi 80

Hồi 81

Hồi 82

Hồi 83

Hồi 84

Hồi 85

Hồi 86

Hồi 87

Hồi 88

Hồi 89

Hồi 90

Hồi 91

Hồi 92

Hồi 93

Hồi 94

Hồi 95

Hồi 96

Hồi 97

Hồi 98

Hồi 99

Hồi 100

a

Biên khảo Lịch sử

Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ

Những vấn đề của thời đại Tiêu sơn

Lời bạt 1

Anh hùng Tiêu-sơn chỉ là bộ lịch sử tiểu thuyết. Tiểu thuyết thì tha hồ phóng túng, tưởng tượng. Thế nhưng lịch sử tiểu thuyết, lại không thể bịa đặt quá đáng, ma trâu, đầu rắn, phun kiếm, di sơn đảo hải.
Với hoài bão, đem tài hèn, sức mọn, cùng tâm huyết ra thuật truyện tổ tiên anh hùng, giữ nước như thế nào; nên tôi tự đặt cho những nguyên tắc căn bản, để khỏi đi quá đà, trái với lịch sử. Tuy vậy độc giả sẽ hơi bỡ ngỡ, khi tôi trình bầy những bí ẩn lịch sử, mà những bậc tiền nhân đi trước, vì không chịu suy xét, cứ đọc sử Trung-quốc, rồi chép lại. Trong toàn bộ Anh hùng Tiêu-sơn có các vấn đề sau:

VẤN ĐỀ THỨ NHẤT : Những nguyên tắc viết

1. Những gì sử Việt chép. Tuyệt đối gữa nguyên, không thay đổi về không gian, thời gian.
2. Những gì sử Trung-quốc như Tống-sử, Tư-trị thông giám cương mục, Tục Tư-trị thông giám trường biên, đã chép trái với sử Việt-Nam, được tước bỏ. Trái lại những gì sử Việt không ghi chép mà sử Trung-quốc chép có lý, được giữ nguyên.
3. Những gì trong sử Việt, Hoa không chép, mà các cuốn phổ, bia đá, truyền sử nói sẽ được tôn trọng. Bởi truyền sử dân gian, tự nó đã thành triết học của người Việt.
4. Bộ Anh-hùng Tiêu-sơn viết ngày tám tháng ba năm Mậu-thân (1968). Kể từ năm 1987, đọc sách của giáo sư Lương Kim-Định, thấy rằng đường đi của người với tôi giống nhau đến gần như trọn vẹn. Giáo sư Kim-Định đã đính chính một số quan điểm của người. Tôi cũng tu sửa Anh-hùng Tiêu-sơn theo cuộc suy diễn về cuộc nghiên cứu của giáo sư, để triết, văn đi cùng nhau.
5. Về niên biểu, ngày, tháng, chúng tôi tuân theo bộ sách chữ Hán Hoàng-Việt giáp tý niên biểu do Quốc-sử quán triều Nguyễn ấn hành. Hiện tàng trữ tại thư viện Paris. Khi mỗi sự kiện xẩy ra, tôi đều ghi năm theo Tây-lịch, đóng trong ngoặc đơn.
6. Những địa danh cổ, vẫn giữ nguyên.
7. Đầu đề mỗi hồi, chúng tôi đặt ra, hoặc dùng những câu thơ, văn đã có sẵn.
8. Khi có khúc mắc, chúng tôi chú giải vào cuối hồi.
9. Các nhân vật, hầu hết thuộc nhân vật thực sự. Thảng hoặc mới có nhân vật tiểu thuyết, để làm một vài nhiệm vụ đặc biệt cho thành cốt truyện.
10. Chúng tôi cố gắng làm nổi bật những vấn đề cổ như: Quan chế, Phong tục, luật pháp, tổ chức hành chánh, ăn uống, y phục đương thời. Nhất là bốn vấn đề: Thiền-học, y-học, võ-học và tình dục học. Tuy biết tình dục học có làm cho các thầy của tôi không vui.

VẤN ĐỀ THỨ NHÌ : Bà Triệu vú dài

Hồi bẩy tám tuổi, tiền nhân giảng sử cho tôi, không ngớt than thở, đôi khi đau lòng thống hận, rồi vượt ra ngoài lẽ Trung-dung đi tới thống mạ những ai đã nói, đã viết sách rằng Bà Triệu vú dài tới rốn. Sử thuật bà Triệu khởi binh ở Cửu-chân nay thuộc Thanh-hoá. Trong một thời gian dài, làm cho quân Ngô kinh hoàng. Họ đã làm thơ tỏ nỗi sợ hãi đó:

Cửu Chân thị địa linh.
Hùng khí tải thiên niên.
Diên-hy xuất nhất nữ.
Trí dũng thực vô biên.
Nam nhi bất khả cập. Thế thế nhân nhân truyền.
Hoành giáo đương hổ dị.
Đăng sơn đối Bà nan.

Tạm dịch:
Cửu-chân vùng đất thiêng,
Hùng khí mấy ngìn năm.
Diên-hy sinh một nữ,
Trí dũng thực vô biên.
Nam như không thể sánh,
Thời thời, người người truyền.
Cầm giáo chống hổ dễ,
Lên núi đối bà nan.

Tôi không biết tác giả bài này là ai? Cũng chẳng thấy chép trong sử Trung-quốc, Việt-Nam. Tôi ghi theo trí nhớ trong tập sách chép tay bằng chữ Hán, dạy Nam-sử cho thiếu niên Việt tên “Nam-sử cương yếu” mà tôi được học vào năm bẩy tuổi.

Bấy giờ bên Trung-quốc thuộc thời đại Tam-quốc, đất Việt do Ngô cai trị. Quân Ngô tuy thế mạnh, người đông, cũng chỉ có thể vây núi Chung-chinh. Họ không tài nào kéo lên diệt bà cùng nghĩa quân. Sau thời gian lâu dài. Họ trèo được núi, thì một bóng người, một vết ngựa không thấy. Bà Triệu cùng nghĩa quân biến mất.
Dân chúng Việt huyền thoại về bà Triệu cùng các anh hùng theo bà. Hào kiệt rục rịch nổi lên tiếp nối. Vì vậy người Ngô phải tìm cách bôi nhọ bà. Họ bịa ra, nào bà Triệu hung dữ, giết chết chị dâu. Nào vú dài tới rốn. Bởi theo người Trung-hoa, phụ nữ có cặp vú lớn, dài, là người dâm dãng. Lời bịa đặt, ắt đương thời không ai tin. Thế nhưng hậu thế có nhiều người tin. Ngay cả đến vua Lê Thánh-Tôn cũng làm thơ nói theo người Tầu:

Cao một trượng, cả mười vừng,
Bỏ tóc ngang lưng, vú chấm sừng.
Họp chúng rừng xanh, oai náo nức.
Cỡi đầu voi trắng, tiếng vang lừng.
Mác dài, trỏ vẫy tan tành giặc,
Ngôi cả lăm le học họ Trưng.
Ví có anh duyên định mấy,
Thời chi Đông Hán dám hung hăng.

Một bài thơ khác, tôi không nhớ rõ tác giả:

Không duyên, không kiếp cũng không chồng,
Cái nợ tuần hoàn, cái nợ chung.
Kề vai vắt vú gánh non sông,
Sánh cùng nam tử nào thua kém,
Sinh ra nhi nữ cũng anh hùng.

Bằng vào y học, tôi thấy thuyết bà Triệu vú dài hoàn toàn bịa đặt. Như ai cũng biết, bà Triệu giỏi võ. Mà đã giỏi võ, ắt bắp thịt cứng rắn. Bắp thịt cứng rắn, sao vú có thể dài chấm sừng voi?

VẤN ĐỀ THỨ BA : Biên giới Hoa-Việt cùng cột Đồng-trụ

Sử chép, sau khi Mã Viện thắng vua Trưng. Mã muốn lưu đại quân, đóng lại để tìm kiếm bảo vật. Y cho trồng một cây cột đồng ở giữa ranh giới Giao-chỉ, Quề-lâm, khắc sáu chữ:
Đồng trụ chiết, Giao-chỉ triệt.
Ý nghĩa rằng: Đồng-trụ gẫy, thì đất Giao-chỉ bị diệt. Dân chúng thấy vậy, mỗi người đi qua ném vào viên đất. Đến nỗi sau này cột đồng trụ bị lấp, không biết ở đâu.
Mã Viện lấy cớ đó, thượng biểu về triều, rằng người Việt vẫn muốn phục hồi cố thổ. Viện xin lưu đại quân lại. Vua Quang-Vũ nhà Hán biết rõ ý Viện, bắt triệt binh.
Sau khi vua Trưng tuẫn quốc, anh hùng tộc Việt nổi lên khắp nơi, dành tự chủ. Vùng Tượng-quận thành nước Đại-lý. Vùng Đông-hải thành nước Ngô-Việt. Vùng Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật-nam thành nước Đại-Việt.
Ranh giới Giao-chỉ, Quế-lâm bấy giờ ở vùng sông Tả-giang ngày nay. Những vùng Khâu-bắc, Văn-sơn, Ô-quan tỉnh Vân-nam cùng vùng Điền-lâm, Điền-dương, Bình-lý, Nam-ninh, Ninh-sơn, Nhạc-xuyên tỉnh Quảng-tây đều thuộc Giao-chỉ.
Sau này, các anh hùng Dương Diên-Nghệ, Ngô Quyền, dành độc lập, chỉ chiếm vùng đồng bằng Bắc-Việt, cố thủ tại đây, chứ không đem quân vựơt rừng núi Bắc-Việt chiếm vùng đồng bằng thuộc Vân-nam, Quảng-tây. Mặc nhiên vùng đất này đến đời Lý không còn nằm trong bản đồ Đại-Việt nữa.
Vậy muốn tìm di tích Đồng-trụ, phải lên vùng Tả-giang thuộc Quảng-tây, chứ không thể tìm ở đất Việt.
Trong những năm 1976-1990, lợi dụng thời gian theo các đoàn công tác sang Trung-quốc nghiên cứu. Tôi lặn lội từng xã, từng trang, từng động, từng ấp khắp vùng biên giới Hoa-Việt, đã tìm thấy những vết tích về cuộc Nam tiến tằm ăn dâu của Trung-quốc:
1. Sau chiến tranh Tống-Lý. Họ chiếm được vùng đất hơn trăm cây số phía Bắc ranh giới hiện tại.
2. Lại các thời Hồ, sau khi chiếm Đại-Việt, họ cắt một khoảng lớn vùng Trấn-nguyên, Khai-nguyên, Quảng-nam thuộc nhập vào lãnh thổ Trung-quốc. Nay gồm một số tộc thiểu số người Thái, Nam Vân-nam. Khi vua Lê thành đại nghiệp, thấy vùng này toàn người Thái ở, nên bỏ quên không chiếm lại.
3. Giặc Mạc Đăng-Dung cướp ngôi nhà Lê, tự trói mình, đem vàng bạc, lên biên giới Hoa-Việt lạy lục quan nhà Minh, rồi cắt đất phía Bắc, cống Minh-triều. Sau này Trịnh diệt Mạc, cũng không đặt lại biên giới nữa.
4. Người Pháp sang cai trị Đông-dương, một lần nữa cắt đất nhượng cho nhà Thanh, tự lui biên giới Bắc-Việt xuống Nam hơn ba mươi cây số. Thành ra những vùng đó, hiện dân vẫn còn nói tiếng Việt, y phục Việt, cùng với miếu mạo anh hùng tộc Việt.
5. Chiến tranh Việt-nam cộng-hoà, Cộng-hoà Nhân-dân Trung-quốc hồi 1973. Việt mất quần đảo Hoàng-sa. Còn quần đảo Trường-sa do quân ba nước trấn đóng: Trung-hoa dân quốc, Phi-luật-tân, Việt-nam cộng-hoà. Trong khi thủy quân Nam Việt-nam cùng Trung-quốc khai hoả ngoài khơi đảo Hoàng-sa, thì ông Phạm Văn-Đồng, nhân danh thủ tướng nước Việt-nam dân chủ cộng hoà, viết thư gửi Thủ-tướng Chu Ân-Lai Trung-quốc, xác nhận hai quần đảo Hoàng-sa, Trường-sa thuộc Trung-quốc.
Sau khi Nam Việt-nam mất, nhà cầm quyền Cộng-hoà xã hội chủ nghĩa Việt-nam, bỏ quên vấn đề biên giới Hoa-Việt. Năm 1978, thình lình Trung-quốc mang quân chiếm 56 xã thuộc Cao-lạng. Không thấy nhà nước Việt-nam nói gì. Ở hải ngoại, Phong-trào liên bang Đông-Nam-Á tổ chức hội thảo vấn đề này. Song không đặt vấn đề chủ quyền, ranh giới hai nước, mà chỉ nêu rõ Chủ ý của Trung-quốc muốn giúp kháng chiến quân Việt-Nam đánh Việt-cộng!.
Mới đây, Trung-quốc cho hạm đội đánh chiếm các đảo Trường-sa do Việt-nam trấn đóng. Nhà nước Cộng-hoà xã hội chủ nghiã Việt-Nam chỉ phản đối lấy lệ.

VẤN ĐỀ THỨ TƯ : Tích-Quang, Nhâm-Diêm, Sĩ-Nhiếp

Phụ thân tôi thuộc giới tân học, thâm khảo cổ học. Người xuất thân ngành tư pháp. Vì vậy tính tình quá thẳng thắng. Mỗi khi đọc thư tịch, tài liệu ca tụng Nhâm Diên, Tích Quang, Sĩ Nhiếp có công trong việc giáo hoá dân Việt; người lại thống mạ tác giả các tài liệu đó.
Nguyên do: Thời Văn-lang, Âu-lạc, Lĩnh-nam, văn minh, tư tưởng, học thuật đất Việt rực rỡ vô cùng. Để tiêu diệt nền văn minh đó. Khi Triệu Đà chiếm Âu-lạc, đã bắt dân học chữ Hán, mặc quần áo Hoa, bỏ chữ Khoa-đẩu. Tuy vậy, đến thời vua Trưng, văn minh, văn học Khoa-đẩu vẫn còn được truyền tụng. Một lần nữa, Mã Viện cấm dân học chữ Khoa-đẩu.
Sử gia Phạm Việp khi chép Hậu-hán thư, phần Tích Quang, Nhâm Diên ca tụng hai người dạy dân Việt trồng ngũ cốc, cùng hôn lễ. Việp sống sau Nhâm, Tích mấy trăm năm, có thể ông không biết gì về văn hoá Văn-lang. Cũng có thể Việp cố ý, khoa trương người Hoa mang văn hoá truyền xuống Nam-man, nên chép như vậy.
Than ôi! Thế mà các sử gia Việt-nam, nhắm mắt chép theo Việp.
Lại đến Sĩ Nhiếp. Rõ ràng y đầy dã tâm như Triệu Đà. Sử gia Trần Thọ trong bộ sử Tam-quốc chí, ca tụng y, là lẽ đương nhiên. Thế mà người sau, không suy nghĩ, chép nguyên những gì Thọ ghi.
Vì vậy, trong Anh-hùng Lĩnh-nam cũng như Anh hùng Tiêu-sơn; tôi trả Nhâm, Tích, Sĩ trở về với sự thực.

VẤN ĐỀ THỨ NĂM : Các thiền sư Bố-Đại, Vô-Ngại, Sùng-Phạm, Minh-Không.

Đọc Thiền-sử tộc Việt, nhiều người thường thắc mắc về hành trạng các thiền sư đắc đạo thành Bồ-Tát như Bố-Đại hoà thượng, Vô-Ngại thượng nhân, Sùng-Phạm đại sĩ, Minh-Không bồ tát. Vì trong thiền sử chép các ngài xuất hiện vào nhiều thời kỳ.
Tỷ như Sùng-Phạm, cố vấn cho vua Đinh (968) vào lúc ngài đã trên năm mươi tuổi, rồi vua Lê (980), trải tới vua Lý Thái-tông (1029-1054), Lý-Thánh-tông (1055-1072). Sử gia xưa của ta, khi sưu tầm tài liệu đặt vấn đề làm sao ngài có thể sống lâu như vậy?
Lại nữa, Bố Đại hoà thượng.Tức Bồ-tát Di-Lặc giáng thế. Ngài vốn người Việt, sinh ở vùng Quảng-đông vào thời Lương (907-923). Không ai biết tục danh là gì. Chỉ biết ngài mập tròn như cái trống, lưng mang túi vải (Bố là vải.Đại là túi. Bố đại hoà thượng tức vị sư mang túi vải). Đương thời ai cúng dàng gì, ngài cũng nhận, bỏ vào túi, rồi đem chia cho con nít. Vì vậy ngài đi đến đâu, con nít xúm xít xung quanh ngài. Cho đến nay, người ta thờ ngài bằng hai biểu tượng: Khi chưa đắc đạo, bị Lục-tặc quấy nhiễu, với năm đứa trẻ ngồi trên thân. Sau khi đắc đạo, tượng ngài mỉm cười với tràng hạt. Ngài có khắc bài kệ vào tảng đá ở chùa Nhạc-lâm năm Trinh-minh thứ ba (917) như sau:

Di-lặc chân Di-lặc,
Phân thân thiên bách dư.
Thời thời thị nhân thế,
Thế nhân tự bất thức.

Nghiã là: Di-Lặc thực là Di-Lặc, phân thân thành hơn trăm, nghìn người khác nhau, đời này qua đời khác cứu độ nhân thế. Mà nhân thế đâu biết?
Sau đó viên tịch.
Thế sao, niên hiệu Thuận-thiên thứ mười bẩy (1027) ngài còn xuất hiện ở Thăng-long?
Người ta đặt vấn đề: Bố-Đại sống vào thời nào?
Ngài Minh-Không, lớn hơn vua Lý Thái-tổ mười tuổi. Mà vua Lý Thái-tổ sinh năm 974. Thế sao lại nói, ngài trị bệnh cho vua Lý Nhân-tông, được phong Quốc-sư năm 1136. Không lẽ ngài thọ gần hai trăm năm?
Sự thực, đó là những Bồ-tát, hoặc phân thân như Bố Đại. Hoặc sau khi xác mục, ngài xuất hồn, nhập vào xác hài nhi, một lần như Sùng Phạm. Ba, bốn lần như Vô-Ngại, Minh-Không ( Cũng như đức Đạt-Lai, Lạt-Ma hiện thời ). Đó là điều thường thấy trong Phật-giáo.

 

Trang Chính

Vườn nhạc

Vườn phim

Vườn thơ

Tâm bút

Danh ngôn

Truyện ngắn

Sách Lịch sử

Truyện Lịch sử

Tài liệu tham khảo

Chuyện xưa tích cũ

Danh nhân Việt Nam

Kiến thức phổ thông

Hướng tâm hồn lên

Diễn đàn - Lưu bút

Nối kết thân hữu

Thư từ liên lạc

a

a

© 2005 HuyenThoai.Org – Wednesday, 1 September, 2010 2:40